Tổng Quan Đắk Nông
Những bước phát triển lớn sau khi thành lập tỉnh | Những bước phát triển lớn sau khi thành lập tỉnh |
|
|
| 20/03/2008 | |
|
Ngày 1-1-2004, tỉnh Đắk Nông được thành lập theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 của Quốc hội trên cơ sở chia tách 6 huyện phía Nam (gồm 52 đơn vị hành chính cấp xã) của tỉnh Đắk Lắk (cũ). Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành các nghị định về điều chỉnh địa giới hành chính một số đơn vị hành chính cấp huyện, xã để thành lập mới các đơn vị hành chính cấp huyện, xã thuộc tỉnh Đắk Nông. Đến nay, tỉnh Đắk Nông có 8 đơn vị hành chính cấp huyện (tăng 2 đơn vị so với năm 2004) và 66 đơn vị hành chính cấp xã (tăng 14 đơn vị so với năm 2004), việc chia tách đơn vị hành chính đã có nhiều tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Các đơn vị hành chính được thành lập mới, do có sự đầu tư kịp thời, phù hợp, bước đầu ổn định và đi vào hoạt động có hiệu quả; phát huy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đưa nền kinh tế của tỉnh phát triển với tốc độ nhanh. Đối với lĩnh vực kinh tế: Tổng sản phẩm xã hội trong 3 năm 2004 - 2006 tăng bình quân 13,63%; trong đó: ngành công nghiệp - xây dựng tăng 62,73%; ngành dịch vụ tăng 30,55%; ngành nông - lâm nghiệp tăng 5,8%. Riêng năm 2006 GDP đạt 3.198 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 15,3%. Công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế được quan tâm đầu tư đúng mức, tỷ trọng ngành nông- lâm nghiệp trong 3 năm (2004 - 2006) giảm từ 75% (năm 2004) xuống còn 58,1% (năm 2006). Nông nghiệp tiếp tục phát triển và giữ vai trò chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội, quy mô, năng lực sản xuất nông nghiệp tăng lên rõ rệt; cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư đúng mức; chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp có nhiều tiến bộ. Sản lượng lương thực năm 2006 đạt 208.011 tấn, tăng 58% so với năm 2003. Giá trị công nghiệp 3 năm đạt 1.269 tỷ đồng, tăng gấp 1,4 lần so với năm 2003; số cơ sở sản xuất công nghiệp tăng từ 1.200 cơ sở năm 2004 lên 1.600 cơ sở năm 2006. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Nhà nước của ngành công nghiệp từ 50,91% năm 2003 xuống còn 41,39% năm 2006; kinh tế dân doanh từ 47,37% năm 2003 lên 56,59% năm 2006, góp phần đáng kể vào tăng trưởng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Đến cuối năm 2006, có 66/66 xã, phường, thị trấn, 95% thôn, bon có điện lưới quốc gia. Hoạt động thương mại diễn ra theo chiều hướng tích cực và sôi động, hàng hóa được lưu thông thông suốt, chủng loại phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt 130 triệu USD, tăng gấp 3,6 lần so với năm 2003. Hoạt động ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông có bước phát triển khá; đến nay 100% xã, phường, thị trấn đã có điện thoại, bình quân 24,4 máy trên 100 dân. Cơ sở hạ tầng được đầu tư, phát triển; tổng vốn đầu tư toàn xã hội 3 năm đạt 4.379 tỷ đồng, riêng năm 2006 đạt 2.000 tỷ đồng, tăng 4,3 lần so với năm 2003... Trần Văn Thắng |
| < Trước | Tiếp > |
|---|